Hiển thị các bài đăng có nhãn hướng dẫn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hướng dẫn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

[Hướng dẫn sức khỏe] NGHIỆN RƯỢU VÀ LẠM DỤNG RƯỢU

NGHIỆN RƯỢU VÀ LẠM DỤNG RƯỢU
Nghiện rượu (phụ thuộc rượu) và lạm dụng rượu là hai dạng khác nhau trong vấn đề liên quan đến uống rượu.
-          Nghiện rượu là khi bạn có những dấu hiện nghiện rượu thực thể và  tiếp tục uống rượu mà bỏ qua mọi tổn hại về thể chất lẫn tinh thần, hay những trách nhiệm xã hội, gia đình, công việc. Rượu có thể điều khiển cuộc sống và các mối quan hệ của bạn.
-          Lạm dụng rượu là khi việc uống rượu của bạn gây ra một số vấn đề, nhưng không nghiện rượu thực thể.

TÊN KHÁC
Phụ thuộc rượu, lạm dụng rượu, vấn đề uống rượu

NGUYÊN NHÂN
Hiện nay nguyên nhân dẫn đến nghiện rượu hay lạm dụng rượu vẫn chưa được làm rõ. Có nghiên cứu cho rằng một số gene nhất định có thể làm tăng nguy cơ nghiện rượu, tuy nhiên đó là những gene nào và cơ chế làm việc của chúng thì vẫn còn là một ẩn số.
Vậy thì uống bao nhiêu rượu sẽ làm tăng khả năng phụ thuộc rượu? Những người có nguy cơ cao dẫn đến nghiện rượu bao gồm:
-          Nam giới uống từ 15 ly trở lên mỗi tuần
-          Nữ giới uống từ 12 ly trở lên mỗi tuần
-          Bất kỳ ai uống từ 5 ly trở lên mỗi lần, ít nhất 1 lần mỗi tuần
Một ly được quy định tương đương 1 chai bia 12 ounce, 1 cốc rượu vang 5 ounce hoặc 1 chén rượu ½ ounce  (1ounce tương đương khoảng 29.575ml trong hệ đo lường của Mỹ).
Nếu bạn có bố hoặc mẹ nghiện rượu thì nguy cơ lạm dụng và phụ thuộc rượu của bạn sẽ cao hơn.
Bạn cũng có nhiều khả năng lạm dụng và nghiện rượu hơn  nếu:
-          Là một người trẻ bị ảnh hưởng từ bạn bè
-          Bị trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu hoặc tâm thần phân liệt
-          Dễ dàng tiếp xúc với rượu
-          Có lòng tự trọng thấp
-          Gặp rắc rối với những mối quan hệ
-          Có lối sống nhiều căng thẳng (stress)
-          Sống trong một nền văn hóa mà ở đó việc uống rượu là phổ biến và được chấp nhận.
Tình trạng lạm dụng rượu đang ngày một tăng lên. Cứ mỗi 6 người Mỹ lại có 1 người gặp vấn đề về uống rượu.

TRIỆU CHỨNG
Người nghiện rượu hoặc phụ thuộc rượu thường:
-          Vẫn tiếp tục uống rượu bất chấp sức khỏe, công việc hay gia đình của mình đang bị tổn hại
-          Uống rượu một mình
-          Trở nên bạo lực khi uống rượu
-          Không thân thiện khi được hỏi về vấn đề uống rượu
-          Không có khả năng điều khiển việc uống rượu của mình – không thể dừng hoặc giảm lượng rượu sử dụng
-          Cố gắng tạo ra những lý do để uống rượu
-          Trễ làm hoặc trễ học hay giảm hiệu suất làm việc hoặc học tập do uống rượu
-          Ngừng tham gia vào các hoạt động vì rượu
-          Cần sử dụng rượu để qua ngày
-          Chán ăn hoặc ăn rất ít
-          Không quan tâm, phớt lờ vấn đề ăn mặc, thậm chí cả vấn đề vệ sinh cá nhân
-          Cố gắng che dấu việc sử dụng rượu
-          Run vào buổi sáng hoặc sau một thời gian không uống rươu
Triệu chứng phụ thuộc rượu bao gồm:
-          Giảm trí nhớ sau khi uống quá nhiều rượu
-          Ngày càng cần nhiều rượu hơn để cảm thấy “say”
-          Khi bạn không được uống rượu trong một thời gian thì bắt đầu có các triệu chứng cai rượu
-          Những bệnh lý liên quan đến rượu như bệnh gan rượu

CÁC  KIỂM TRA VÀ XÉT NGHIỆM
Các cán bộ chăm sóc sức khỏe sẽ thực hiện kiểm tra về thể chất và hỏi những câu hỏi về tiền sử dùng thuốc và gia đình của bạn, bao gồm cả việc dùng rượu.
Những câu hỏi sau đây được Viện nghiên cứu về nghiện rượu và lạm dụng rượu quốc tế dặt ra để khảo sát về lạm dụng rượu hoặc nghiện rượu:
-          Bạn có bao giờ lái xe sau khi uống rượu hay không?
-          Bạn đã từng phải uống nhiều hơn trước để say hoặc có những cảm giác mong muốn hay không?
-          Bạn đã từng cảm thấy rằng mình nên hạn chế uống rượu bớt chưa?
-          Bạn đã từng mất ý thức sau khi uống rượu chưa?
-          Bạn đã từng bị trễ làm hoặc mất vvieejc vì uống rượu chưa?
-          Các thành viên trong gia đình bạn có đang lo lắng về việc uống rượu của bạn?
Một số xét nghiệm có thể làm bao gồm:
-          Đo độ cồn trong máu (xét nghiệm này nhận biết một người vừa uống rượu, nhưng không thực sự cần thiết để xác định họ nghiện rượu)
-          Công thức máu
-          Xét nghiệm chức năng gan
-          Định lượng magne máu

ĐIỀU TRỊ
Mục tiêu lý tưởng của điều trị là hoàn toàn ngưng sử dụng rượu – được gọi là cai rượu. Sự hỗ trợ, động viên mạnh mẽ từ gia đình và cộng đồng là rất quan trọng để giúp người bệnh đạt được mục tiêu này.
Đối với nhiều người nghiện rượu, việc từ bỏ hoàn toàn có thể rất khó khăn. Sẽ có những khoảng thời gian vô cùng khó khăn. Bạn hãy cố gắng tránh xa rượu được càng lâu càng tốt.
Một số người lạm dùng rượu có thể chỉ đơn giản là giảm lượng rượu họ uống – được gọi là uống có điều độ. Nếu phương pháp này không hiệu quả, bạn nên cố gắng từ bỏ rượu hoàn toàn.

QUYẾT ĐỊNH BỎ RƯỢU
Nhiều người gặp vấn đề về uống rượu không nhận ra rằng việc uống rượu của họ đã vượt ra khỏi tầm khiểm soát.
Phương pháp điều trị lý tưởng là giúp người đó nhận ra uống ba nhiêu rượu sẽ tổn hại đến cuộc sống của họ và những người xung quanh.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người gặp vấn đề về rượu chấp nhận sự điều trị khi các thành viên trong gia đình hoặc lãnh đạo của họ thật lòng bày tỏ lo ngại của mình, và chỉ cho họ thấy rằng uống rượu đang cản trở họ đạt được những mục tiêu trong cuộc sống.
Việc cai rượu thường được thực hiện tốt hơn nếu được quản lý, theo dõi. Những biến chứng cai rượu có thể đe dọa đến tính mạng. Để biết thêm thông tin, xem: Cai rượu
Bạn nên được cán bộ chăm sóc sức khỏe của mình thực hiện xét nghiệm máu và nước tiểu thường xuyên để theo dõi những vẫn đề sức khỏe thường gặp ở người lạm dụng rượu.

HỖ TRỢ LÂU DÀI
Những chương trình cai rượu hoặc hỗ trợ có thể giúp bạn bỏ rượu hoàn toàn. Những chương trình này thường cung cấp:
-          Tư vấn và chăm sóc sức khỏe, thảo luận với người nghiện rượu về những ảnh hưởng, phương pháp điều khiển suy nghĩ và hành vi của bạn
-          Hỗ trợ sức khỏe tâm thần
-          Chăm sóc y tế
Bạn có thể được điều trị trong một trung tâm cai nghiện (nội trú), hoặc có thể nhận một chương trình điều trị tại nhà (ngoại trú).
Đôi khi bạn sẽ được kê một số loại thuốc có thể giúp ngăn chặn việc uống rượu trở lại:
-          Acamprosate – có tác dụng làm giảm tỷ lệ tái nghiện ở những người phụ thuộc rượu
-          Disulfiram (Antabuse) gây nên những tác dụng vô cùng khó chịu nếu bạn uống dù chỉ một lượng rất nhỏ rượu trong vòng 2 tuần sau khi sử dụng thuốc
-          Naltrexone (Vivitrol) giảm sự thèm rượu. Thuốc này còn có ở dạng tiêm.
Các thuốc này chống chỉ định cho phụ nữ có thai và một số tình trạng sức khỏe nhất định. Thuốc thường được dùng để điều trị lâu dài, phối hợp với các nhóm tư vấn và hỗ trợ.
Sau khi bạn bỏ rượu có thể bị trầm cảm hoặc gặp các trạng thái tâm lý của rối loạn lo âu, tuy nhiên đừng lo lắng, những trạng thái này có thể được điều trị nhanh chóng.
Một vấn đề quan trọng nữa là người  bệnh nên sống trong một điều kiện giúp họ dễ dàng tránh xa rượu. Có một số chương trình cung cấp những lựa chọn nhà ở cho người nghiện rượu hoặc lạm dụng rượu.

NHÓM HỖ TRỢ
Các nhóm hỗ trợ giúp đỡ những người nghiện rượu
AA (Alcoholics Anonymous: Hội cai nghiện rượu giấu tên)
AA là một nhóm tự lực cai nghiện rượu, cung cấp những hỗ trợ về tinh thần và những bước cụ thể để cai nghiện rượu. Chương tình thường được gọi là phương pháp “12 bước”. Có các cơ sở địa phương trên khắp nước Mỹ.
AA cung cấp sự hỗ trợ 24/24 giờ và dạy rằng chúng ta có thể tham gia vào các hoạt động xã hội mà không uống rượu.
AL-ANON
Các thành viên trong gia đình có người lạm dụng rượu thường cần được tư vấn. Al-anon là một nhóm hỗ trợ cho người than và những người bị người nghiện rươu ảnh hưởng.
Alateen hỗ trợ trẻ em vị thành niên là con của người nghiện rượu.

NHỮNG NHÓM HỖ TRỢ KHÁC
Còn có nhiều nhóm hỗ trợ khác:
-          SMART recovery dạy rằng thay đổi suy nghĩ và hành vi có thể giúp cai nghiện rượu.
-          LifeRing recovery và SOS là hai chương trình phi tôn giáo hỗ trợ những người lạm dụng rượu.
-          Women for Sobriety là một nhóm tự lực chỉ giành riêng cho phụ nữ
-          Moderation Management là một chương trình cho những người muốn giảm uống rượu. Nó khuyến cáo cai rượu cho những người không thể làm điều này.

TIÊU LƯỢNG
Tiên lượng của một người nghiện rượu hoặc lạm dụng rượu phụ thuộc vào họ có thể bỏ rượu hay không.
Nghiện rượu là một vấn đề sức khỏe lớn kiên quan đến xã hội, kinh tế và cộng đồng. Uống rượu có thể ảnh hưởng đến mọi mặt cuộc sống. Nếu bạn gặp vấn đề về uống rượu, cai rượu có thể giúp cải thiện các vấn đề sức khỏe thể chất, tinh thần và có lẽ cả những mối quan hệ của bạn.
Những chương trình điều trị có thể giúp bạn bỏ rượu. Tuy nhiên, việc tái nghiện sau điều trị là thường thấy. Cho nên có một hệ thống hỗ trợ tốt là vô cùng quan trọng.

BIẾN CHỨNG
Nghiện rượu và lạm dụng rượu có thể gia tăng nguy cơ mắc một số vấn đề sức khỏe, bao gồm:
-          Xuất huyết tiêu hóa
-          Tổn thương tế bào não
-          Rối loạn chức năng não – được gọi là hội chứng Wernicke-Korsakoff
-          Ung thư thực quản, gan, kết tràng, và những vùng khác
-          Rối loạn kinh nguyệt
-          Chứng mê sảng (delirium tremens)
-          Chứng mất trí và suy giảm trí nhớ
-          Trầm cảm và tự tử
-          Rối loạn chức năng cương dương
-          Tổn thương tim mạch
-          Tăng huyết áp
-          Viêm tụy
-          Bệnh gan, bao gồm xơ gan
-          Tổn thương thần kinh
-          Suy dinh dưỡng
-          Chứng mất ngủ
Uống rượu còn tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục và bạo lực.
Uống rượu khi mang thai có thể gây ra nhiều dị tật bẩm sinh cho trẻ. Xem: hội chứng thai nhi rượu (hội chứng bào thai nhiễm độc do rượu)

LÚC NÀO THÌ CẦN LIÊN HỆ VỚI CHUYÊN VIÊN Y TẾ?
Ngay lập tức tìm kiếm sự chăm sóc y tế hoặc gọi ngay cho số điện troại cấp cứu ở địa phương của bạn nếu:
-          Bạn hoặc người mà bạn biết nghiện rượu và đang lên cơn động kinh, hoảng loạn hoặc chảy máu

DỰ PHÒNG
Viện nghiên cứu về nghiện rượu và lạm dụng rượu quốc tế khuyến cáo:
-          Phụ nữ không nên uống quá 1 ly mỗi ngày
-          Nam giới không nên uống quá 2 ly mỗi ngày

Một ly được quy định tương đương 1 chai bia 12 ounce, 1 cốc rượu vang 5 ounce hoặc 1 chén rượu ½ ounce  (1ounce tương đương khoảng 29.575ml trong hệ đo lường của Mỹ).

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

[Hướng dẫn sức khỏe] AIDS

Nhiễm HIV là một tình trạng gây hủy hoại hệ miễn dịch một cách từ từ - khiến cơ thể gặp khó khăn hơn trong việc chống lại sự nhiễm trùng. Khi tình trạng này xảy ra, người bệnh nhiễm AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải).



TÊN KHÁC
Nhiễm HIV, Virus suy giảm miễn dịch ở người, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải.

NGUYÊN NHÂN
Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) gây nhiễm HIV và AIDS. Virus này tấn công hệ miễn dịch. Khi hệ miễn dịch suy yếu, cơ thể trở nên nhạy cảm, khó chống đỡ các nhiễm trùng đe dọa đến tính mạng và các bệnh ung thư. Một khi nhiễm virus, nó sẽ tồn tại trong cơ thể suốt phần đời còn lại.

Virus lây truyền từ người sang người theo bất kỳ con đường nào dưới đây:
-          Qua tiếp xúc tình dục – bao gồm cả đường miệng, âm đạo và hậu môn
-          Qua đường máu – chủ yếu là truyền máu (hiện nay hầu như không xảy ra ở Mỹ) hoặc sử dụng chung kim tiêm.
-          Từ mẹ sang con – một thai phụ có thể truyền virus cho thai nhi qua tuần hoàn chung, hoặc mẹ có thể lây nhiễm cho con qua sữa khi cho con bú.

Virus không lây truyền qua:
-          Những tiếp xúc thông thường như ôm
-          Muỗi
-          Cùng chơi thể thao
-          Chạm vào những vật dụng mà những người nhiễm virus đã chạm vào trước đó

HIV và hiến máu hoặc tạng:
-          HIV không lây truyền cho người hiến máu hoặc hiến tạng. Những người hiến tạng không bao giờ tiếp xúc trực tiếp với người nhận. Tương tự như vậy, những người hiến máu cũng không bao giờ có bất kỳ tiếp xúc trực tiếp nào với người nhận. Trong tất cả những thao tác này đều sử dụng kim tiêm và các dụng cụ vô trùng.
-          Nhưng HIV có thể truyền cho người nhận máu hoặc tạng từ những người hiến bị nhiễm. Để giảm thiểu nguy cơ này, các ngân hàng máu và chương tình hiến nội tạng bắt buộc phải kiểm tra (khảo sát) người hiến, máu, và mô hết sức cẩn thận.

Những người có nguy cơ cao nhiễm HIV bao gồm:
-          Những người tiêm ma túy sử dụng chung kim tiêm
-          Trẻ sơ sinh từ những người mẹ nhiễm HIV không nhận sự điều trị trong suốt quá trình mang thai
-          Những người quan hệ tình dục không an toàn, đặc biệt là với những người có những hành vi nguy cơ cao khác, người nhiễm HIV hoặc AIDS
-          Những người được truyền máu hoặc các chế phẩm của máu giữa năm 1977 và 1985, trước khi xét nghiệm khảo sát HIV trở thành một xét nghiệm thường quy
-          Bạn tình của người có các hành vi nguy cơ cao (như tiêm ma túy hoặc quan hệ tình dục qua đường hậu môn)

Sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể,  virus có thể được tìm thấy trong nước bọt, nước mắt, máu, tinh dịch (bao gồm cả tiền tinh dịch – là chất dịch được tiết ra trước khi xuất tinh), dịch âm đạo và sữa. trong đó virus chỉ có thể lây truyền qua máu, tinh dịch, dịch âm đạo và sữa.

TRIỆU CHỨNG
Người nhiễm HIV cấp (nhiễm lần đầu) thường có những biểu hiện tương tự như cảm cúm:
-          Ỉa chảy
-          Sốt
-          Đau đầu
-          Viêm loét miệng, bao gồm cả nhiễm nấm men (tưa)
-          Co cứng hoặc đau cơ
-          Vã mồ hôi về đêm
-          Phát ban hoặc các dạng khác
-          Viêm họng
-          Sưng các hạch bạch huyết

Nhiều người vẫn không xuất hiện triệu chứng khi được chẩn đoán nhiễm HIV.

Nhiễm HIV cấp tiến triển trong vài tuần đến vài tháng thành tình trạng nhiễm HIV không triệu chứng. Giai đoạn này có thể kéo dài đến 10 năm hoặc hơn. Trong giai đoạn này, người bệnh vẫn có thể truyền virus cho người khác.

Hầu như tất cả người nhiễm HIV nếu không được điều trị đúng đắn đều tiến triển tới AIDS. Một nhóm nhỏ người bệnh lại tiến triểu rất chậm hoặc thậm chí không bao giờ tiến triển tới AIDS. Những bệnh nhân này được gọi là thể không tiến triển. Có nhiều khả năng họ có những gene giúp ngăn chặn đáng kể sự tấn công của virus vào hệ miễn dịch.

Bệnh nhân AIDS có hệ miễn dịch bị tổn thương do HIV nên rất nhạy cảm với những nhiễm trùng mà bình thường không thể phát triển ở những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh. Đây được gọi là bệnh nhiễm trùng cơ hội.

Triệu chứng thường gặp là:
-          Ớn lạnh
-          Sốt
-          Phát ban
-          Vã mồ hồi (đặc biệt là về đêm)
-          Sưng các hạch bạch huyết
-          Mệt mỏi
-          Sụt cân

ĐIỀU TRỊ
Hiện nay không có phương pháp điều trị đặc hiệu nào cho AIDS. Tuy nhiên có những phương pháp để hạn chế các triệu chứng. Ngoài ra điều trị còn có thể nâng cao chất lượng và kéo dài cuộc sống cho những người đã có triệu chứng.

Liệu pháp kháng retrovirus  ức chế sự nhân lên của virus HIV trong cơ thể. Sự phối hợp các thuốc kháng retrovirus được gọi là liệu pháp kháng retrovirus (ART), còn được biết đến là liệu pháp kháng retrovirus tác dụng cao (HAART), rất hiệu quả trong giảm số lượng HIV lưu hành trong máu. Được đánh giá bằng số virus tự do được tìm thấy trong máu. Ức chế sự nhân lên của virus có thể cải thiện số lượng tế bào lympho T và giúp hệ miễn dịch phục hồi khỏi sự tấn công của HIV.

Những bệnh nhân đang được sử dụng ART với số lượng HIV bị ức chế vẫn có khả năng truyền virus sang người khác qua đường tình dục hoặc sử dụng chung kim tiêm. Khi sử dụng liệu pháp ART, nếu duy trì được sự ức chế mức HIV virus và duy trì  số lượng CD4 ở mức cao (>200 tế bào/mm3), cuộc sống có thể được kéo dài và cải thiện đáng kể.

HIV có thể trở nên đề kháng với một phối hợp liệu pháp ART. Đặc biệt là ở những bệnh nhân không tuân thủ lịch điều trị hằng ngày. Một số xét nghiệm có thể kiểm tra sự đề kháng của một dòng HIV. Thông tin này rất hữu ích trong việc tìm kiếm phối hợp thuốc tốt nhất và để điểu chỉnh phối hợp thuốc khi nó bắt đầu thất bại.

Khi HIV trở nên đề kháng với liệu pháp HAART, bắt buộc phải sự dụng một phối hợp thuốc khác để cố gắng ức chế dòng HIV đề kháng này. HIện nay trên thị trường có khá nhiều loại thuốc mới để điều trị HIV kháng thuốc.

Điều trị với ART có một số biến chứng. Mỗi thuốc có những tác dụng không mong muốn riêng.

Một số tác dụng không mong muốn thường gặp là:
-          Tập trung mỡ ở lưng (bướu trâu) và bụng
-          Ỉa chảy
-          Cảm giác yếu ớt, mệt mỏi, khó chịu
-          Đau đầu
-          Buồn nôn

Khi sử dụng kéo dài, những thuốc này làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, có lẽ do tăng nồng độ cholesterol và glucose máu.

Người đang thực hiện liệu pháp ART cần được theo dõi các tác dụng không mong muốn bởi cán bộ chăm sóc sức khỏe. Các xét nghiệm máu để định lượng CD4 và virus HIV được làm mỗi 3 tháng. Mục tiêu là đạt được số lượng CD4 gần với mức bình thường và ức chế lượng virus HIV trong máu đến mức không thể phát hiện được.

Ngoài ra có thể có một số thuốc được kê để điều trị những vấn đề liên quan đến AIDS như thiếu máu, giảm bạch cầu, và để phòng ngừa các nhiễm trùng cơ hội.

NHÓM HỖ TRỢ
Tham gia một nhóm hỗ trợ - nơi các thành viên chia sẻ những kinh nghiệm và các vấn đề thường gặp có thể thường xuyên giúp giải tỏa những stress tình cảm do mắc bệnh kéo dài.

DỰ PHÒNG
Dự phòng HIV/AIDS:
-          Không sử dụng ma túy phạm pháp, và không sử dụng chung bơ kim tiêm. Hiện nay ở một số nơi đã có chương trình đổi kim tiêm, trong đó bạn có thể bỏ đi những bơm tiêm đã sử dụng và đổi lấy những cái mới, vô trùng. Những chương trình này còn có thể tư vấn cai nghiện cho bạn.
-          Tránh tiếp xúc với máu của người khác. Nếu có thể, hãy mang áo quần bảo hộ, khẩu trang, kính bảo hộ khi chăm sóc người bị thương.
-          Nếu bạn dương tính với HIV, bạn có thể lây nhiễm virus cho người khác. Do đó bạn không nên hiến máu, huyết tương, nội tạng hoặc tinh trùng.
-          Phụ nữ nhiễm HIV nếu có kế hoạch mang thai nên nói chuyện với cán bộ chăm sóc sức khỏe về nguy cơ đối với đứa trẻ tương lai. Họ có thể thảo luận về những phương pháp để bảo vệ đứa trẻ khỏi HIV, chẳng hạn như sử dụng các thuốc điều trị trong quá trình mang thai.
-          Không nên cho trẻ bú sữa mẹ nhiễm HIV vì có khả năng lây cho trẻ.

Thực hành tình dục an toàn, sử dụng bao cao su là một biện pháp có hiệu quả trong phòng tránh HIV. Tuy nhiên không thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ lây nhiễm ngay cả khi đã sử dụng bao cao su. Sự kiêng khem là phương pháp duy nhất chắc chắn phòng tránh được lây truyền HIV.
Những người nhiễm HIV đang sử dụng thuốc kháng retrovirus có nguy cơ lây truyền HIV thấp hơn.

Các nguồn cung cấp máu ở Mỹ là thuộc hàng an toàn nhất trên thế giới. Hầu như tất cả những người nhiễm HIV qua đường truyền máu  đều do truyền máu trước năm 1985 – năm mà xét nghiệm HIV trở thành một xét nghiệm thường quy cho tất cả máu được hiến.
Nếu bạn nghĩ rằng mình đã bị phơi nhiễm HIV, hãy tìm đến sự chăm sóc y tế ngay lập tức. Đừng trì hoãn. Bắt đầu sử dụng thuốc kháng virus ngay có thể giảm nguy cơ nhiễm HIV cho bạn. Đây gọi là phòng bệnh hậu phơi nhiễm – được sử dụng trong dự phòng lây nhiễm cho những cán bộ chăm sóc sức khỏe bị thương do kim tiêm trong quá trình làm việc.


Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

[Hướng dẫn sức khỏe] HEN

HEN
NGUỒN
Hen là một tình trạng bệnh lý gây phù nề và co thắt đường thở, dẫn đến khó thở, thở khò khè, tức ngực và ho.

TÊN KHÁC
Hen phế quản

NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân gây ra hen là viêm đường thở. Khi cơn hen xảy ra, thành đường thở  phù nề và các cơ trơn quanh đường thở co thắt. Điều này dẫn đến giảm lượng khí đi qua đường thở.
Với những người có đường thở nhạy cảm, cơn hen có thể khởi phát do hít phải những chất được gọi là dị ứng nguyên hay chất khởi phát.


Những chất khởi phát cơn hen bao gồm:
-          Động vật (lông vật nuôi)
-          Bụi nhà
-          Một số loại thuốc nhất định (aspirin và các loại kháng viêm không steroid khác)
-          Thay đổi thời tiết (thường là thời tiết lạnh)
-          Hóa chất trong không khí hoặc trong thức ăn
-          Hoạt động thể lực
-          Nấm mốc
-          Phấn hoa
-          Nhiễm trùng đường hô hấp, như cảm lạnh thông thường
-          Những xúc cảm mạnh (stress)
-          Khói thuốc lá
Nhiều người hen phế quản có tiền sử cá nhân hoặc gia đình dị ứng, như “sốt cỏ khô” (viêm mũi dị ứng) hoặc chàm. Một số người có thể không có tiền sử dị ứng.

TRIỆU CHỨNG
Đa số người hen phế quản có những cơn hen xen kẽ với những khoảng không triệu chứng. Một số người có cơn khó thở kéo dài với những đợt khó thở tăng lên. Thở khò khè và ho đều có thể là những triệu chứng chính.
Cơn hen có thể kéo dài từ vài phút đến vài ngày, và có thể trở nên nguy hiểm nếu sự lưu thông khí bị tắc nghẽn nặng.

Những triệu chứng bao gồm:
-          Ho có hoặc không kèm tăng tiết đờm dãi
-          Dấu co kéo khoảng gian sườn (Khoảng da ở giữa các xương sườn bị kéo lõm vào trong khi thở)
-          Khó thở tăng lên khi vận động
-          Thở khò khè

Những triệu chứng cấp cần được cấp cứu:
-          Tím môi, mặt
-          Mất tỉnh táo như tình trạng lơ mơ hoặc lẫn lộn nặng trong cơ hen
-          Khó thở nặng
-          Nhịp tim nhanh
-          Tình trạng hoảng hốt trong cơn khó thở
-          Vã mồ hôi

Những triệu chứng khác có thể xảy ra
-          Hô hấp bất thường – thời gian thở ra kéo dài trên 2 lần so với thời gian hít vào
-          Hô hấp tạm đình chỉ
-          Đau ngực
-          Co thắt lồng ngực

ĐIỀU TRỊ
Mục tiêu điều trị là:
-          Kiểm soát được sự phù nề đường thở
-          Tránh xa các dị ứng nguyên hay những chất khởi phát các triệu chứng của bạn
-          Giúp bạn có khả năng thực hiện các hoạt động thông thường mà không gây nên các triệu chứng hen
Bạn và bác sỹ của mình nên cùng nhau làm việc để quản lý thật tốt bệnh hen phế quản của mình. Nên tuân theo các hướng dẫn của bác sỹ của bạn trong việc uống thuốc, loại trừ các tác nhân gây hen, và kiểm soát các triệu chứng.

CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN
Có 2 loại thuốc trong điều trị hen phế quản:
-          Các thuốc kiểm soát giúp ngăn ngừa các cơn hen
-          Các thuốc tác dụng nhanh sử dụng trong cơn hen

Thuốc điều trị dài ngày
Còn được gọi là các thuốc duy trì hay thuốc kiểm soát. Chúng được sử dụng để phòng ngửa các triệu chứng ở những người bệnh hen trung bình đến nặng. Bạn phải uống những thuốc này hằng ngày để duy trì tác dụng của chúng. Hãy uống thuốc ngay cả khi bạn cảm thấy bệnh tình của mình đã ổn định.
Một số  loại thuốc dùng dài ngày qua đường hô hấp (khí dung, dạng xịt…) như các steroid hay các thuốc đồng vận beta tác dụng dài. Các loại khác được dùng qua đường uống. Bác sỹ của bạn sẽ kê đơn cho bạn loại thuốc phù hợp nhất.

Thuốc tác dụng nhanh
Những thuốc này còn được gọi là các thuốc cắt cơn. Chúng được sử dụng cho:
-          Ho, thở khò khè, hô hấp khó khăn, hoặc một cơn hen
-          Ngay trước khi bạn động thể lực để ngăn ngừa các trị chứng hen gây ra do gắng sức
-          Hãy báo cho bác sỹ của mình nếu bạn phải sử dụng các thuốc tác dụng nhanh này hai lần trong tuần hoặc nhiều hơn. Bệnh hen của bạn có thể đã vượt ra khỏi kiểm soát và bác sỹ của bạn có thể cần thay đổi liều thuốc kiểm soát hằng ngày của bạn.
Những thuốc tác dụng nhanh bao gồm:
-          Các thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn dạng xịt
-          Các thuốc corticosteroid dạng uống dùng khi không cắt được cơn hen phế quản
Một cơn hen nặng cần có sự can thiệp của bác sỹ. Bạn có thể cần phải điều trị nội trú. Tại đây bạn gần như chắc chắn được sử dụng oxygen, hô hấp hỗ trợ, và thuốc qua đường tĩnh mạch.

CHĂM SÓC TẠI NHÀ
Bạn cần:
-          Biết các triệu chứng của hen để theo dõi
-          Biết cách đo lưu lượng khí đỉnh và đọc kết quả đo
-          Biết các  tác nhân làm nặng bệnh hen của bạn và cách xử trí khi nó xảy ra.

Những kế hoạch hành động cho bệnh hen là tài liệu được viết để quản lý bệnh hen. Một kế hoạch hành động cho bệnh hen nên bao gồm:
-          Hướng dẫn sử dụng thuốc khi tình trạng ổn định
-          Danh sách các tác nhân khởi phát và cách phòng tránh
-          Cách nhận biết khi tình trạng hen của bạn chuyển biến tệ hơn, và lúc cần gọi cho bác sỹ hoặc y tá.
Một máy đo lưu lượng khí đỉnh là một dụng cụ đơn giản để đo lường tốc độ thở ra của bạn.
-          Nó có thể giúp bạn nhận ra một cơn hen đang đến, thậm chí đôi lúc trước cả khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Chỉ số đo lưu lượng khí đỉnh còn giúp bạn biết khi nào nên sử dụng thuốc hoặc nên làm gì

-          Giá trị lưu lượng khí đỉnh từ 50% đến 80% kết qủa tốt nhất của bạn là dấu hiệu của một cơn hen trung bình. Nếu con số này dưới 50% là báo hiệu cho một cơn hen phế quản nặng.

DỰ PHÒNG
     Bạn có thể giảm thiểu các triệu chứng của hen phế quả bằng cách tránh xa những tác nhân khởi phát và những chất gây kích thích đường thở.
- Bọc giường bằng ga chống dị ứng để giảm tiếp xúc với mạt bụi nhà.
- Không trải thảm ở trong phòng ngủ và thường xuyên sử dụng máy hút bụi.
- Chỉ sử dụng các chất tẩy rửa không mùi để làm sạch các vật dụng trong nhà.
- Giữ độ ẩm thấp và sửa chữ nhữ chỗ dò, dột để tránh sự phát triển của các sinh vật như nấm mốc.
- Giữ nhà ở sạch sẽ và bảo quản thức ăn trong các hộp chứa, không để trong phòng ngủ. Điều này giúp giảm số lượng gián. Những phần cơ thể hoặc chất thải từ gián có thể gây khởi phát cơn hen ở một số người.
- Nếu bạn dị ứng với một loài động vật nuôi trong nhà mà không thể bỏ chúng thì đừng nên cho chúng vào phòng ngủ. Đặt vật liệu lọc trước cửa lò sưởi để hút lông động vật. Thay thiết bị lọc của lò sưởi và máy điều hòa không khí định kỳ.
- Loại trừ khói thuốc lá khỏi ngôi nhà của bạn. Đây là điều quan trọng nhất gia đình có thể làm để giúp đỡ thành viên bị hen. Nếu bạn nghĩ chỉ cần hút thuốc ở ngoài là đủ thì đó là một điều sai lầm. những thành viên trong gia đình hoặc những vị khách sau khi hút thuốc ở ngoài vẫn có thể mang theo phần cặn khói thuốc vào nhà trên quần áo và tóc của họ. Nó có thể gây khởi phát những triệu chứng của hen. Nếu bạn hút thuốc, thì đây chính là thời điểm tốt để bỏ.
- Tránh vùng không khí ô nhiễm, chất thải công nghiệp, những chất khí gây kích thích hết sức có thể.