Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

LỒNG RUỘT

LỒNG RUỘT
A. LỒNG RUỘT CẤP Ở TRẺ BÚ MẸ
I. ĐẠI CƯƠNG:

Lồng ruột là một bệnh lý cấp cứu ngoại khoa rất thường gặp ở trẻ em. Bệnh lý diễn biến do một đoạn ruột lộn lại và chui vào lòng của đoạn ruột kế cận.

Lồng ruột có thể gặp bất cứ ở lứa tuổi nào, nhưng gặp nhiều nhất là ở lứa tuôit 4-8 tháng.

Tài liệu thống kê nước ngoài: 65% bệnh nhân là dưới 1 tuổi.
Tài liệu thống kê trong nước con số này lên đến 95-97%.

Lồng ruột gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái (tỷ lệ 2/1 đến 3/1).

Bệnh gặp quanh năm nhưng nhiều nhất là mùa đông xuân, mùa có tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cao.

ít gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, đa số gặp ở trẻ béo tốt, bụ bẫm.

Phân loại:
Theo nguyên nhân 
1. Lồng ruột nguyên phát 
Gặp ở trẻ bú mẹ. Có liên quan đến bệnh lý của đường hô hấp trên do loại Adenovirus. Loại virus này gây ra viêm hạch mạc treo ruột chủ yếu là đoạn hồi tràng và viêm hạch sẽ làm gia tăng nhu động ruột tạo điều kiện thuận lợi cho lồng ruột thường xảy ra ở đoạn hồi - manh tràng. Điều này giải thích được lồng ruột thường xảy ra cao điểm tùy theo mùa dịch của virus. 

2. Lồng ruột thứ phát 
Xảy ra trong khỏang 10% trường hợp. ở đây người ta tìm thấy một vài thương tổn thực thể gây ra lồng ruột như các loại u lành tính hoặc ác tính của ruột, các dị dạng ruột (ruột đôi, túi thừa Meckel...). 

3. Lồng ruột sau mổ 
Đây là một biến chứng sau phẫu thuật bụng ở trẻ em nhất là sau những phẫu thuật của cơ hoành hoặc những phẫu thuật thoát vị cơ hoành. 

Theo tiến triển 
Lồng ruột được chia thành 3 loại 
1. Lồng ruột cấp tính 
Xảy ra chủ yếu ở trẻ bú mẹ. Bệnh có diễn tiến nhanh và đưa đến nhiều biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, hoại tử ruột, viêm phúc mạc, nhiễm độc. Đây cũng là một trong những cấp cứu bụng thường gặp ở lứa tuổi bú mẹ. 

2. Lồng ruột bán cấp 
Xảy ra ở lứa tuổi trẻ lớn (3-15 tuổi). Diễn tiến chậm, ít khi gây ra các biến chứng tắc ruột và hoại tử ruột. 

3. Lồng ruột mạn 
Xảy ra ở người lớn hoặc người già. Tiến triển chậm, có khả năng tự khỏi và tái phát nhiều lần, thường do nguyên nhân các khối u của đại tràng. ít có nguy cơ hoại tử ruột. 

Vài nét lịch sử
-         Giữa thế kỷ XVII Paul Barbette đã mô tả bệnh lồng ruột và gợi ý mổ để tháo lồng.
-         Giữa thế kỷ XIX bệnh đã được biết rộng rãi với tỷ lệ tử vong rất cao.
-         Năm 1871 Jonathan Hutehinson đẫ mổ tháo lồng thành công trường hợp đầu tiên
-         1876 Hirschsprung báo cáo một loạt bệnh nhân được tháo lồng bằng áp lực nước.
-         Năm 1897 mổ cắt đoạn ruột đã được tiến hành thành công lần đầu tiên.
-         Năm 1913 Ladd đã sử dụng phương pháp chụp đại tràng có bơm thuốc cản quang như là một phương tiện để chẩn đoán.
-         Sau này các tác giả Mỹ, Pháp đã tháo lồng đồng thời báo cáo việc sử dụng phương pháp thụt chất cản quang như là một phương pháp điều trị lồng ruột.

II- BỆNH CĂN
Hiện nay nguyên nhân gây lồng ruột cấp tính ở trẻ em vẫn chưa được hiểu biết chắc chắn. Tuy nhiên vẫn có một số cách giải thích.
- Do sự mất cân đối nghiêm trọng giữa kích thước của hồi tràng và van hồi manh tràng, do đó lồng ruột dễ xuất hiện.

- Một số tác giả cho rằng viêm hạch của mạc treo có vai trò trong cơ chế của lồng ruột. Ở trẻ còn bú van Bauhin nhô vào trong lòng đại tràng, các nang bạch huyết phong phú, nhất là ở con trai. Các nang bạch huyết này khi viêm sưng sẽ cản trở nhu động của ruột non đang tăng lên do hạch bạch huyết bị viêm.


Hình 1: Valve Bauhin bình thường

- Viêm hạch bạch huyết mạc treo có liên quan tới nhiễm siêu vi trùng. Mùa xảy ra lồng ruột trùng với thời gian có tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cao nhất. Nhiều bệnh nhân lồng ruột đã có phản ứng huyết thanh dương tính với một số loại vi rút (Adenovirus) và người ta cũng tìm thấy những thành phần của Adenovirus trong niêm mạc của ruột thừa được cắt bỏ khi mổ lồng ruột.

- Có tác giả cho rằng vùng hồi- manh tràng là nơi giao tiếp của hai luồng sóng nhu động ngược chiều nhau, nhu động xuôi chiều của hồi tràng và nhu động ngược chiều của đại tràng phải về phía manh tràng.

III- GIẢI PHẪU BỆNH LÝ
Khối lồng bao gồm:
- Ống ngoài: (ruột “tiếp nhận” ).
- Ống giữa
- Ống trong: (ruột bị lồng).
- Đầu khối lồng (điểm xuống thấp nhất của đoạn ruột bị lồng).
- Cổ khối lồng (nơi xuất phát của lồng ruột).

Các loại lồng ruột đơn giản thường chỉ có kết hợp 3 lớp vỏ, những trường hợp phức tạp hơn khối lồng có thể đến 5 - 7 lớp áo. Các lớp này biểu hiện trên siêu âm bằng hình ảnh của nhiều vòng đồng tâm. 


Hình 2: Khối lồng ruột

Mạc treo ruột cùng với mạch máu bị cuốn vào trong lòng đoạn ruột dưới, bị thắt nghẹt lại ở cổ khối lồng => tĩnh mạch bị chèn ép => phù nề => các mạch máu càng bị chèn ép nặng hơn. Niêm mạc của đoạn ruột bị lồng nhanh chóng bị thương tổn và xuất hiện chảy máu.

Nếu điều trị không kịp thời khối lồng sẽ bị hoại tử. (2,5% hoại tử trước 48 giờ và 82% hoại tử sau 72 giờ).


Hình 3: Giải phẫu bệnh học lồng ruột: Currant jelly stools: phân có máu, đỏ sệt như mứt nho.

Lồng ruột chủ yếu xảy ra ở vùng hồi manh tràng (chiếm 90% các trường hợp) giữa đoạn ruột di động (hồi tràng) và đoạn ruột cố định (manh tràng và đại tràng lên). Các hình thái giải phẫu của lồng ruột được xác định bởi điểm khởi đầu của lồng ruột và vị trí ruột bị lồng vào.

- Lồng hồi - manh tràng và van Bauhin hiện diện dưới dạng đầu lồng là loại lồng ruột thường gặp nhất. Ruột thừa và manh tràng bị cuốn vào trong khối lồng. 

- Lồng ruột hồi-đại tràng: Điểm khởi đầu là đoạn cuối của hồi tràng, sau đó hồi tràng chui vào đại tràng nhiều hoặc ít, tuỳ trường hợp theo hướng về phía hậu môn. Van Bauhin vẫn ở nguyên tại chỗ (lồng ruột xuyên qua van), hoặc tạo nên đầu của khối lồng (lồng ruột hồi-manh tràng) -  thể này nguy cơ hoại tử rất cao vì cổ lồng và van Bauhin trở thành một vòng thắt rất chặt. 

- Lồng ruột hồi- hồi tràng hoặc đại tràng – đại tràng đơn thuần: Rất ít gặp trừ khi có nguyên nhân thực thể.

- Lồng ruột thừa vào manh tràng: Cực kỳ hiếm gặp.

- Lồng ruột phức tạp là sự kết hợp của các thể đã nêu lên

IV- TIẾN TRIỂN
Lồng ruột không được phát hiện và xử lý sẽ tiến triển nặng dần lên. Do ruột và mạc treo không cố định nên khối lồng tiếp tục tiến sâu vào dọc theo khung đại tràng. Trong các thể cổ điển khối lồng sẽ dừng lại ở phần giữa của đại tràng ngang. Hạn hữu có trường hợp qua đến đại tràng trái hoặc vào trong sigma - trực tràng. Sự thắt nghẹt của mạc treo ở vùng cổ lồng gây ra một sự thiếu máu đoạn ruột tương ứng. Lúc đầu là xuất huyết niêm mạc do ứ trệ tĩnh mạch giải thích hiện tượng đại tiện ra máu. Sau đó sự thiếu máu do tắc nghẽn động mạch sẽ đưa đến hoại tử và thủng ruột, viêm phúc mạc nhiễm độc với tỷ lệ tử vong cao. 

V- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
1- Triệu chứng cơ năng:
- Đau bụng: Đau bụng là biểu hiện nổi bật nhất, thể hiện điển hình là: Cơn đau bụng đột ngột, dữ dội, trẻ ưỡn người, xoắn vặn, ban đêm cơn đau đánh thức trẻ dậy, trong khi ban ngày làm trẻ phải ngừng mọi hoạt động bình thường (bỏ chơi, bỏ bú), cơn đau mất đi đột ngột cũng như lúc xuất hiện, mỗi cơn đau kéo dài 5-15 phút. Sau cơn đau trẻ có thể lại tiếp tục bú hoặc chơi nhưng các triệu chứng lại tái diễn sau giây lát.

- Nôn ra thức ăn: Xuất hiện từ cơn đau đầu tiên ở hầu hết trẻ nhỏ, nôn ra dịch xanh hoặc vàng xuất hiện ở giai đoạn muộn.

- Ỉa ra máu: (chiếm 95%) đó là dấu hiệu ít nhiều đã muộn, vì vậy không nên chờ đợi để xác nhận chẩn đoán. Ỉa ra máu xuất hiện trung bình từ 6 – 8 giờ sau cơn đau đầu tiên, có thể ngay từ cơn đau đầu tiên (thường là lồng chặt, khó tháo) hoặc có thể xuất hiện muộn sau 24 giờ. Đa số các trường hợp máu lẫn chất nhầy, có thể đỏ hoặc nâu và cũng có thể có vài giọt máu tươi chảy ra hậu môn. Trong nhiều trường hợp máu chỉ được phát hiện khi thăm trực tràng bằng ngón tay.

- Đại đa số các trường hợp lồng ruột có bí trung đại tiện (vì khối lồng gây tắc hoàn toàn). Tuy nhiên đôi khi ruột không tắc hoàn toàn bệnh nhân vẫn tiếp tục đại tiện được. Đây là tình huống dễ làm cho chẩn đoán nhầm, nhất là có đến 7% số bệnh nhân bị ỉa chảy sau khi lồng ruột xuất hiện.

2- Triệu chứng thực thể:
- Sờ thấy khối lồng: Lúc bệnh nhân dịu cơn đau, bụng thường mềm, sờ thấy khối lồng thành một khối dài, di động, chắc mặt nhẵn, đau khi ấn, nằm dọc theo vị trí của khung đại tràng. Không phải bất cử trường hợp nào cũng sờ thấy khối lồng: Do khối lồng nằm núp dưới bờ sườn phải, góc gan hoặc khi khối lồng xuống thấp hơn nhưng bụng lại căng chướng do tắc ruột đến muộn. Tỷ lệ sờ thấy khối lồng từ 85-95% các trường hợp.

- Thăm trực tràng bằng ngón tay thấy có máu dính theo găng biểu hiện của xuất huyết ruột. Như lời của Mondor “nếu là lồng ruột cố tìm sẽ thấy máu ở phân”. Nhiều bệnh nhân đến muộn có thể sờ thấy đầu của khối lồng khi thăm trực tràng, có thể kết hợp sờ nắn bụng và thăm trực tràng để xác định khối lồng.

3- Triệu chứng toàn thân: 
Bệnh nhân thường mệt lả, ít hoạt động. Nhiệt độ có thể tăng cao.

4- Triệu chứng X.quang:
Chụp bụng không chuẩn bị ít có giá trị trong chẩn đoán, chỉ cho thấy một số dấu hiệu gợi ý:
- Một vùng cản quang dưới gan hoặc thượng vị tuơng ứng với vị trí khối lồng.
- Không có hơi ở hố chậu phải do manh tràng đã di chuyển.
- Các biểu hiện của tắc ruột: Mức nước, mức hơi, điển hình khi bệnh nhân đến muộn.
- Chụp x quang bụng không chuẩn bị cũng cho phép xác định có liềm hơi hay không (ruột đã thủng hoặc chưa) giúp ích cho chỉ định điều trị.
Chụp bụng bao giờ cũng có các hình ảnh đặc hiệu của lồng ruột.

Hình 4: X quang này cho thấy một tình trạng bệnh lý của ruột trong đó một quai ruột trượt lồng vào một quai khác (lồng ruột), gây nên sưng nề, giảm tưới máu, tắc nghẽn, và tổn thương mô. Lồng ruột là một tình trạng cấp cứu (tháo lồng bằng bơm barium hoặc phẫu thuật) để tánh tình trạng hoại tử, thủng ruột, viêm phúc mạc và tử vong.

Những trường hợp chống chỉ định trong chụp đại tràng có bơm Baryte
- Hội chứng viêm phúc mạc.
- Ỉa máu ào ạt.
- Có liềm hơi trên phim chụp không chuẩn bị.
- Hội chứng tắc ruột (không phải là một chống chỉ định tuyệt đối nhưng phải hết sức hận trọng khi chỉ định).
Kỹ thuật:
- Thủ thuật được tiến hành phải có mặt của phẫu thuật viên và kỹ thuật viên x quang.
- Tiền mê: Atropin với Amynazin.
- Bệnh nhân nằm ngửa chân duỗi.
- Bốc thụt đựng chất cản quang được nối liền với một cannin đặt vào hậu môn.
- Áp lực không được vượt quá 120 cm nước.
- Thuốc cản quang dừng ở đầu khối lồng sẽ cho một số hình ảnh đặc hiệu kinh điển: Hình càng cua, hình đáy chén, hình âm thoa, hình cắt cụt đại tràng.
Nên chụp 1 phim lúc bắt đầu thấy hình ảnh lồng ruột và 1 phim sau khi đã tháo lồng được.



Hình 5: Hình ảnh búi lồng trên phim chụp đại tràng có cản quang: hình ảnh choán chỗ (trái), hình ảnh đáy chén (phải)

Những năm gần đây người ta dùng phương pháp bơm khí vào đại tràng thay cho bơm Baryte. Hình ảnh của lồng ruột khi bơm khí cũng điển hình như bơm Baryte. Đây là thủ thuật an toàn, ít tốn kém.

5- Triệu chứng siêu âm.
- Từ hơn 10 năm nay, siêu âm đã được sử dụng để chẩn đoán lồng ruột.
- Khi cắt ngang: Khối lồng tạo nên một hình ảnh có đường kính trên 3 cm với vùng trung tâm tăng âm và vùng ngoại vi giảm âm.
- Khi cắt dọc: Khối lồng có hình ảnh của một bánh Sandwich.




Hình 6: Hình ảnh lồng ruột trên siêu âm

Siêu âm nên được sử dụng để chẩn đoán thay chụp đại tràng khi các biểu hiện lâm sàng không điển hình hoặc dễ kiểm tra kết quả tháo lồng. Đối với các tác giả có kinh nghiệm, siêu âm có thể cho kết quả chẩn đoán đúng 100% các trường hợp.

VI- CHẨN ĐOÁN
1- Chẩn đoán xác định
.
−Nếu đến sớm dùng phương trình Fèvre: 

Đau bụng khóc thét + sổ được búi lồng = Lồng ruột
Đau bụng khóc thét + đại tiện ra máu = Lồng ruột 
Đau bụng khóc thét + hình ảnh X quang = Lồng ruột

− Nếu đến muộn dùng phương trình Ombrédance: 
Hội chứng tắc ruột + đại tiện ra máu = Lồng ruột đến muộn 

Tuy nhiên không phải bao giờ bệnh nhi cũng có đầy đủ các triệu chứng như trên. Trong một số trường hợp chẩn đoán sẽ rất khó khăn do thiếu các triệu chứng lâm sàng cơ bản. Cần thiết phải có sự trợ giúp của các phương tiện xét nghiệm cận lâm sàng như X quang đặc biệt là siêu âm. 

2- Chẩn đoán phân biệt:
- Viêm ruột thừa cấp, viêm dạ dày cấp.
- Lỵ cấp (trẻ còn bú ít bị).
- Polip trực tràng, túi thừa Meckel, u nang túi mật.
- Phân biệt với các nguyên nhân đi ngoài ra máu khác.

VII-  ĐIỀU TRỊ
1- Tháo lồng bằng thủ thuật bơm Baryte hoặc bằng khí.
a.     Tháo ruột bằng  thủ thuật bơm không khí

Ngày nay việc tháo lồng bằng khí đang được sử dụng phổ biến thay cho tháo lồng bằng Baryte nếu không có chống chỉ định.
Ở Việt Nam tháo lồng bằng khí được tiến hành 1964 và từ 1973 tác giả Ngô Đình Mạc đã nghiên cứu có hệ thống và toàn diện. Tác giả đã sản xuất máy tháo lồng có van điều khiển áp lực nhằm đề phòng biến chứng vỡ đại tràng trong khi tháo lồng.
Tỷ lệ tháo lồng nếu bệnh nhân đến sớm trong 24 giờ đầu là 90% các trường hợp.
Các tiêu chuẩn cho biết đã tháo lồng được:

−Chỉ định 

+ Tất cả lồng ruột cấp đến sớm trước 24 giờ. 
+ Hạn chế đối với những trường hợp đến trong khoảng 24 - 48 giờ chưa có dấu tắc ruột và chưa có dấu hiệu nhiễm độc. 

−Kỹ thuật 
+ Dùng dụng cụ bơm hơi kín có theo dõi áp lực (mmHg). Có thể dùng phương pháp điều chỉnh bằng tay hoặc phương pháp điều chỉnh tự động (bằng máy tháo lồng). 
+ Áp lực bơm tối đa là 100mmHg. Trên áp lực này tai biến vỡ ruột dễ xảy ra. 
+ Trẻ phải được tiền mê tốt hoặc gây mê tĩnh mạch trong suốt quá trình tháo để tránh tai biến áp lực tăng đột ngột do trẻ vùng vẫy và rặn. 
+ Sau 3 đợt bơm đến áp lực tối đa nếu không thành công thì nên ngừng thủ thuật mà chuyển sang phẫu thuật. 

−Đánh giá kết quả: nếu tháo thành công thì: 
+ Ngay trên bàn tháo: 
• Áp lực đồng hồ tụt đột ngột. 
• Bụng bệnh nhi căng tròn đều 
• Bơm tiếp áp lực không lên hoặc lên rất chậm. 
• Xả hơi ra bụng bệnh nhi không xẹp lại. 
• Sờ bụng không còn thấy búi lồng. 
• Để kiểm tra ngay trên bàn tháo có thể đặt 1 sonde dạ dày và đầu sonde nhúng vào ly nước. Khi tháo được lồng hơi đi ngược lên đến dạ dày và sủi bọt ra ở ly. 

+ Sau khi tháo
lồng: 
• Chụp X quang hơi qua đều ở ruột non hình tổ ong. 
• Siêu âm bụng không còn hình ảnh búi lồng. 
• Cho uống than hoạt trẻ đại tiện phân đen sau 12 giờ. 
• Trẻ hết đau, chơi đùa lại, bú không nôn, đại tiện bình thường. 

-         Cần phải cảnh giác với các trường hợp lồng kép hồi-hồi-đại tràng. Tuy thuốc cản quang hoặc khí đã sang ruột non nhưng lồng hồi-hồi tràng vẫn còn.

Các biến chứng do tháo lồng bằng không khí 
+ Vỡ ruột: Do áp lực vượt cao trên mức an toàn, trẻ xuất hiện tím tái, suy hô hấp, ngừng thở do cơ hoành bị chèn ép. 

Xử trí: hô hấp hỗ trợ, tháo hơi nhanh ra khỏi phúc mạc (chọc kim lớn hoặc rạch thủng phúc mạc) chuyển mổ để xử trí thương tổn. 
+ Khó thở và trào ngược dạ dày
+ viêm phổi do hít: 
Đề phòng: hô hấp hỗ trợ, thở oxy. Đặt sonde dạ dày hút sạch thức ăn trong dạ dày trước khi tiến hành thủ thuật. 

 b. Tháo lồng bằng thủ thuật thụt tháo đại tràng (áp lực thủy tĩnh)
Phương pháp này rất thông dụng ở các nước phát triển, thường được tiến hành tại phòng X quang. Dung dịch để tháo trước đây là dung dịch baryte, tuy nhiên gần đây do có nhiều tai biến nên được thay bằng các dung dịch hoà tan dạng gastrographin. 
Trong phương pháp này thời gian tháo lồng sẽ kéo dài tốn kém bệnh nhân, ăn tia nhiều và tỷ lệ thành công thấp do không kiểm soát được áp lực. 


Hình 7: Diễn tiến của tháo lồng bằng baryte

2- Điều trị bằng phẫu thuật:
a) Chỉ định: Ở những trẻ lồng ruột đến muộn sau 48 giờ, những trường hợp tắc ruột, có dấu nhiễm độc Khi lồng ruột có chống chỉ định tháo lồng bằng khí hoặc khi đã tháo lồng bằng khí không có kết qủa hoặc biến chứng.
b) Vô cảm: Với trẻ em tốt nhất là gây mê, gạc hở Ete-oxy. Nếu tắc ruột non đến muộn nên gây mê nội khí quản.
c) Đường rạch: Hợp lý nhất là rạch đường trắng giữa trên và dưới rốn để dễ dàng kiểm tra xử lý cắt đoạn ruột khi cần.
d) Kỹ thuật tháo lồng: Khi thấy khối lồng dùng tay nắn nhẹ nhàng từ dưới lên trên, ngược chiều nhu động ruột, đẩy lùi dần khối lồng> Nếu khó khăn nên đắp huyết thanh ấm hoặc phóng bế Novocain mạc treo ruột và chờ đợi.


Hình 8: Kỹ thuật tháo lồng

- Khi phải cắt đoạn ruột do đọan ruột lồng bị hoại tử nên nối ruột ngay hay đưa ra ngoài hiệnvẫn chưa có ý kiến thống nhất.
- Nếu ổ bụng không có biểu hiện viêm phúc mạc nặng, nên nối ruột ngay bằng kỹ thuật nối tận-tận dùng chỉ liền kim, kim tròn loại 4/0 hoặc 5/0.
- Nếu ổ bụng có biểu hiện viêm phúc mạc nặng nên dẫn lưu hai đầu ruột ra ngoài theo phương pháp Mikulicz.

Tử vong sau mổ lồng ruột giảm đáng kể cùng với thời gian.Nguyên nhân tử vong sau mổ chủ yếu là viêm phổi và sốt cao co giật.


B. LỒNG RUỘT Ở TRẺ LỚN

Nếu lồng ruột ở trẻ còn bú là hình thái cấp tính, diễn biến rất nhanh thì trái lại lồng ruột ở trẻ lớn chủ yếu là hình thái bán cấp hoặc mạn tính, triệu chứng không điển hình nên dễ chẩn đoán muộn.

I- NGUYÊN NHÂN
Đa số lồng ruột ở trẻ lớn có nguyên nhân thực thể:
- Manh tràng và một phần đại tràng phải di động.
- Polyp hoặc u ruột non hoặc đại tràng.
- Túi bịt Meckel còn.

II- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Đau: Đau không dữ dội như ở trẻ nhỏ. Cơn đau lâm râm dễ nhầm lẫn với viêm ruột thừa hoặc viêm hạch mạc treo. Biến chứng tắc ruột và hoại tử ruột ít khi xảy ra do búi lồng thường lỏng lẻo. Siêu âm và chụp đại tràng cản quang thường giúp cho chẩn đoán xác định. 
Nôn: Hay gặp.
Ỉa máu: Tỷ lệ không cao (khác với lồng ruột ở trẻ nhỏ). (khoảng 44%).
Sờ nắn: Thấy có khổi lồng (khoảng 89%).
Nói chung: Triệu chứng đau bụng và khối lồng xuất hiện từng đợt. Bệnh nhân đau bụng có thể 1-2 ngày, sau lại hết đau, khối lồng biến mất.
Sau những khoảng thời gian khác nhau, đau bụng và khối lồng lại tái xuất hiện. Ít khi bệnh nhân có biểu hiện tắc ruột hoàn toàn.

III- CẬN LÂM SÀNG
Chụp đại tràng có bơm thuốc Baryte hoặc bơm khí cho dấu hiệu đặc hiệu của lồng ruột. Tuy nhiên đôi khi không bắt được hình ảnh lồng ruột vì khối lỏng lẻo, rất dễ bị tháo dưới áp lực trước khi kịp quan sát, do vậy siêu âm trong cơn đau có giá trị chẩn đoán cao.

IV. CHẨN ĐOÁN
Trong đa số các trường hợp lồng ruột có thể chẩn đoán được dựa vào lâm sàng (đau bụng- khối lồng). Nếu không sờ thấy khối lồng nên chụp đại tràng có bơm thuốc cản quang hoặc bơm khí hoặc siêu âm để xác định chẩn đoán.
Cần chẩn đoán phân biệt với tắc ruột do giun- một bệnh phổ biến ở nước ta: (khối lồng khi sờ được thường nhẵn và nằm dọc khung đại tràng).

V- ĐIỀU TRỊ
Lồng ruột ở trẻ lớn đa số có nguyên nhân thực thể, dễ tái phát. Vì vậy điều trị bằng phẫu thuật khi mổ phải chú ý tìm nguyên nhân và giải quyết:

- Cắt túi thừa Meckel.
- Cắt Polyp.
- Nếu manh tràng di động: Nên cắt ruột thừa và cố định manh tràng để tránh tái phát. 

C. LỒNG RUỘT HỒI – HỒI TRÀNG 
Xuất hiện dưới dạng một tắc ruột cấp tính và rất khó chẩn đoán được nguyên nhân trước mổ. Thường nhầm lẫn với xoắn ruột hoặc túi thừa Meckel. Chẩn đoán chỉ xác định được ngay trên bàn mổ. 


D. LỒNG RUỘT SAU MỔ 
Thường gặp ở đoạn hồi - hồi tràng. Các triệu chứng thường bị lu mờ do bệnh cảnh liệt ruột sinh lý sau mổ. Triệu chứng được gợi ý khoảng ngày thứ 3 hoặc thứ 4. Không có nhu động hoặc đã có rồi mất nhu động trở lại đồng thời xuất hiện nôn. X quang hình ảnh tắc ruột điển hình. Phần lớn đều được mổ với chẩn đoán “tắc ruột sớm” sau mổ. 

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

DỊ DẠNG HẬU MÔN TRỰC TRÀNG

DỊ DẠNG HẬU MÔN TRỰC TRÀNG
ĐẠI CƯƠNG
Đây là dị tật bẩm sinh hay gặp nhất ở đường tiêu hóa. Cần được phát hiện và điều trị sớm ngay từ khi trẻ mới sinh. Tỷ lệ tử vong ngày càng giảm.
Từ xưa người ta đã biết đến dị tật hậu môn - trực tràng dưới một tên thông dụng là "không có hậu môn”. 
-         Thế kỷ VII: Paulus là người đầu tiên đã áp dụng phẫu thuật khoan thăm dò từ tầng sinh môn. Cách làm này tuy mù quáng nhưng đã được thịnh hành trong rất nhiều thế kỷ. 
-         1710 Littré đưa ra phẫu thuật làm hậu môn nhân tạo ở những trẻ khoan thăm dò không có kết quả.
-         Rhoads (1948) đã dùng phương pháp mổ kết hợp đường bụng và đường tầng sinh môn.
-         1953 Stephens đã nêu lên vai trò của cơ mu trực tràng và cần thiết phải bảo tồn cơ này trong phẫu thuật.
-         1970 hội nghị quốc tế chuyên đề “Dị dạng hậu môn - trực tràng” được tổ chức tại Melbourne (Australia) đã đưa ra một bảng phân loại và đã được áp dụng rộng rãi trên nhiều nước.
PHÔI THAI HỌC
Thời kỳ phôi thai ruột sau (trực tràng) và niệu nang (bàng quang) thông nhau trong một khoang gọi là ổ nhớp, phía dưới được bịt kín bằng màng ổ nhớp. Màng ổ nhớp tiêu đi khiến đường tiêu hóa – sinh dục – tiết niệu thông với bên ngoài.
Khi vách tiết niệu – trực tràng phát triển cuống dưới thì phân chia trực tràng ra khỏi đường tiết niệu – sinh dục.
Quá trình phân chia này nếu bất thường ở một giai đoạn nào đó sẽ dẫn đến dị tật hậu môn trực tràng.
Do có chung nguồn gốc nên hậu môn trực tràng, cơ quan sinh dục ngoài, đường tiết niệu dưới thường có dị tật chung.


Hình 1: Phôi thai
TƯƠNG QUAN SINH LÝ – GIẢI PHẪU
Hệ thống cơ vòng bình thường được cấu tạo bởi 3 nhóm cơ:
-         Cơ tròn ngoài: Cơ vân, điều khiển theo ý muốn, nằm quanh rìa hậu môn, có vai trò trong vấn đề đại tiện nhất là đối với phân lỏng hoặc hơi.
-         Cơ tròn trong: Là sự dày lên của lớp cơ vòng thành trực tràng. Đây là cơ trơn nên không chịu sự điều khiển theo ý muốn. Cơ trơn trong không hiện diện trong các dị dạng thể cao.
-         Cơ mu trực tràng: Cơ vân, là một phần của cơ nâng hậu môn. Cơ bám vào xương mu phía trước và bọc quanh trực tràng và bám vào xương cụt ở phía sau. Cơ tạo thành sự gập góc giữa trục của trực tràng và ống hậu môn. Cơ đóng vai trò quan trọng điều khiển vấn đề đại tiện và đều có hiện diện trong tất cả các  thể của dị dạng hậu môn - trực tràng.

Hình 2: Hệ thống cơ vòng bình thường

PHÂN LOẠI
1.     Mốc giải phẫu
Các tác giả đều nhất trí chọn cơ mu trực tràng làm mốc giải phẫu chính để phân biệt 3 thể dị dạng:
Nếu d < 2cm: Thể thấp.
Nếu d > 2,5cm: Thể cao.
Nếu 2 < d < 2,5cm: Thể trung gian.
Khoảng cách (d) thiếu chính xác vì phụ thuộc vào tư thế chụp phim của bệnh nhi và thời gian dốc ngược đầu và thời gian khí đi từ dạ dày đến trực tràng.
Để khắc phục người ta phải chụp phim từ 12-24 giờ sau sinh và thời gian ngược đầu từ 3-5 phút.
2.     Mốc X quang
1970 Stephens đã dùng đường mu-cụt (P-C) (Pubococcygeal-line) để  đánh giá các dị dạng thay vì dùng vật cản quang. Đường P-C  là đường nối từ đỉnh của xương cụt với phần giữa của xương mu.
Đường này trên thực tế sẽ trùng với mặt phẳng của cơ mu trực tràng. Do đó nếu:
Túi  bịt nằm trên đường PC:  Thể cao.
Túi  bịt nằm ngang đường PC: Thể trung gian.
Túi  bịt nằm dưới đường PC:  Thể thấp.
Tuy  nhiên có nhiều trường hợp xương cụt chưa cốt hóa nên Creamin cải biến tư thế chụp ngược đầu bằng cách cho gập 2 chân để đùi thẳng góc  với bụng. Hai điểm cốt hóa của ụ ngồi sẽ trùng với đường PC của Stephens tức là trùng với mặt phẳng của mu-trực tràng.

Hình 3: Xquang chúc ngược đầu
3.     Bảng phân loại giải phẫu-lâm sàng

a.     Loại trên cơ nâng hậu môn (cao)

-         Bất sản hậu môn trực tràng:
+ Không có ống hậu môn
+ Túi bịt trực tràng đứng lại trên đường PC.
-         Bất sản trực tràng:
+ Ống hậu môn bình thường
+ Túi bịt trực tràng dừng lại trên đường PC.
Loại trên cơ nâng hậu môn thường kèm theo các đường rò vào bàng quang  hay niệu đạo khoảng 70% ở bé trai và rò vào âm đạo ở túi cùng sau khoảng 90% ở bé gái.
b.    Loại trung gian

-         Bất sản hậu môn:
+ Không có ống hậu môn
+ Túi bịt trực tràng đã xuống sát đường PC.
Loại trung gian cũng có rò vào tiết niệu ở bé trai và âm đạo thấp ở bé gái, tỷ lệ chiếm khoảng 10%.
-         Hẹp hậu môn trực tràng: Hậu môn và trực tràng bình thường nhưng đoạn nối  hậu môn trực tràng bít hẹp ngang đường PC.

c.      Loại dưới cơ nâng hậu môn (thấp)

-         Hậu môn màng
Trực tràng và ống hậu môn đều bình thường nhưng lỗ hậu môn bị bít kín bởi một lớp màng trắng mỏng, qua màng có thể thấy phân su bên dưới.
-         Hậu môn nắp
+ Thể nắp kín: Hậu môn được bít kín bởi một nắp da dày, không có chỗ rò phân.
+ Thể nắp hở: Có các lỗ rò phân. Tùy theo vị trí của lỗ rò ta có các loại dị dạng:
Dị dạng hậu môn - trực tràng tầng  sinh môn trước: Rò ở tầng sinh môn trước.
Dị dạng hậu môn bìu: Lỗ rò nằm ở góc bìu dái.
Dị dạng hậu môn-âm hộ: Lỗ rò nằm ở âm hộ (môi lớn, môi bé hoặc tiền
đình).
Lỗ hậu môn nhỏ hơn bình thường đôi lúc chỉ nhỏ như chân tăm xe đạp.
d.     Loại hiếm gặp: Nữ còn ổ nhớp

Hình 4: Còn ổ nhớp
LẤM SÀNG
Cơ năng
-         Đa số biểu hiện hội chứng tắc ruột sơ sinh
-         Một số ít vẫn ỉa phân su (qua lỗ dò, hẹp hậu môn)
Toàn thân
Đẻ non, thiếu cân, mất nước, dị tật, phối hợp…
Thực thể
Chủ yếu khám vùng tầng sinh môn
-         Trường hợp không có lỗ hậu môn:
+ Vết tích hậu môn: Lúm da sẫm màu nâu, vị trí bình thường hoặc bất thường, khi trẻ khóc thì phông lên hoặc không, sờ vào mềm hoặc chắc.
+ Cơ thắt hậu môn: kích thích gây đau chỗ vết tích hậu môn, nếu có cơ thắt -> co rúm lại
+ Lỗ rò: vị trí? Có phân su ra không? Phân su qua các lỗ tự nhiên: niệu đạo (nam), âm đạo (nữ)
-         Trường hợp có lỗ hậu môn: thăm khám bằng sonde Nelaton 8 -12
+ Vào sâu bao nhiêu?
+ Có phân su ra không?
CHẨN ĐOÁN
Đơn giản dựa vào sự thăm khám có hệ thống vùng tầng sinh môn của tất cả các trẻ sơ sinh. Hai dấu hiệu chính là:
-         Không thấy sự hiện diện của lỗ hậu môn ở vị trí bình thường.
-         Hoặc đặt một sonde không vào được trực tràng.
Ngoài ra cần phải:
-         Xác định các lỗ rò phân ở tầng sinh môn trước, góc bìu dái hoặc ở âm hộ trong trường hợp thể thấp.
-         Quan sát nước tiểu: Để phát hiện dấu hiệu có phân su + hơi  trong nước tiểu ở trường hợp có rò trực tràng-tiết niệu ở bé trai và phân ra âm đạo ở bé gái.
-         Khám toàn diện: Để phát hiện các  dị tật khác kèm theo (lồng ngực, tim mạch, cột  sống...)
CHẨN ĐOÁN THỂ GIẢI PHẪU
Dựa vào hình ảnh X quang tư thế ngược đầu.
Có thể chụp đường rò có cản quang để xác định túi bịt trực tràng hoặc chọc dò vùng tầng sinh môn dưới sự hướng dẫn của siêu âm để bơm thuốc cản quang vào túi bịt trực tràng. Phương pháp này cho phép xác định chính xác giới hạn của túi bịt trực tràng so với tầng sinh môn.
Thời gian gần đây siêu âm có một vài trò rất quan trọng trong chẩn đoán xác định thể dị dạng (dựa vào đo khoảng cách từ tầng sinh môn đến túi bịt trực tràng), xác định các đường rò phân qua bàng quang, niệu đạo ở bé trai và âm đạo ở bé gái, xác định các dị tật kết hợp.
Ngoài ra để khắc phục các nhược điểm do phương pháp chụp ngược dòng (invertogram) người ta có thể cho trẻ nằm sấp và kê mông lên thật cao (tư  thế chổng  mông). Với tư thế này  trẻ có thể nằm một thời gian rất  lâu để  chờ  hơi xuống đến đại tràng và đồng thời do bụng vùng hạ vị bị ép nên dồn hơi lên túi bịt rất rõ ràng.
DIỄN BIẾN VÀ BIẾN CHỨNG
Nếu không điều trị kịp thới
+ Nôn, trào ngược đường hô hấp
+ Chết đột ngột
+ Nhiễm trùng đường hô hấp
+ Tắc ruột vỡ ruột
+ Giãn đại tràng thứ phát
ĐIỀU TRỊ
Mục đích:
-         Cứu sống bệnh nhân
-         Tạo hậu môn ở vị trí bình thường
-         Đảm bảo chức năng đại tiện
Mỗi loại dị dạng đều có một chỉ định điều trị tương ứng.
Chỉ định
-         Hậu môn bịt kín, không có lỗ rò: mổ cấp cứu
-         Hậu môn bịt kín, có lỗ ròi: có thể trì hoãn một thời gian
-         Hẹp HM hay TT : nong, nếu không có kết quả thì mổ

1.     Dị dạng dưới cơ nâng hậu môn (thấp)

-         Hậu môn màng: Cắt bỏ màng.

-         Hậu môn nắp kín:
+ Cắt bỏ nắp
+ Tạo hình lỗ hậu môn mới.
+ Đường mổ tầng sinh môn, bộc  lộ túi bịt trực tràng, đưa xuống tầng sinh môn đính niêm mạc và da theo kiểu loa kèn.

-         Hậu môn nắp hở (Hậu môn âm hộ, hậu môn tầng sinh môn trước, hậu môn bìu).
+ Phẫu thuật "cut back” cắt bỏ đường rò vào tạo hình lỗ hậu môn mới. Sau khi xẻ đường rò để hở hoàn toàn vết mổ. Thời gian sau tầng sinh môn đứa trẻ sẽ tự đầy lên trở lại.

-         Hẹp hậu môn: Chỉ cần nong hậu môn bằng tay hoặc bằng dụng cụ (Bougie de Hégar).

2.     Dị dạng thể cao (trên cơ nâng)
Áp dụng phẫu thuật 3 thì:
Thì 1: Làm hậu môn nhân tạo.
Thường làm cấp cứu để giải quyết tình trạng tắc ruột và tình tạng ứ đọng phân. Ngoài ra hậu môn nhân tạo còn làm giảm các triệu chứng nhiễm trùng trong trường hợp có rò giữa trực tràng và bàng quang, âm đạo.
Thì 2: Hạ bóng trực tràng, thắt các đường rò phân, tạo hình lỗ hậu môn mới.
Các phương pháp thường được áp dụng thì 2 là:
Phẫu thuật Rhoads: Hạ bóng trực tràng bằng đường bụng kết hợp đường tầng sinh môn.
Phẫu thuật Kiesewetter: Hạ bóng trực tràng qua ống  thành cơ trực tràng bằng đường bụng kết hợp đường cùng và đường tầng sinh môn.
Phẫu thuật Péna: Hạ bóng trực tràng bằng đường cùng, áp dụng ở các  thể dị dạng trung gian. Hiện nay, đây là phương pháp phẫu thuật được hầu hết phẫu thuật viên nhi trên thế giới sử dụng.
Thì 3: Đóng hậu môn nhân tạo.
Thông thường thì 1 làm ở tuổi sơ sinh. Thì 2 khi trẻ > 1 tuổi, cân nặng > 10kg. Thì 3 sau thì 2 từ 3-6 tháng.
3.     Dị dạng thể trung gian
Ở thể hẹp hậu môn trực tràng: Nong bằng tay hoặc dụng cụ.
Ở trẻ có rò ra da ở tầng sinh môn có thể áp dụng phẫu thuật cut back.
Các thể còn lại đều áp dụng phẫu thuật 3 thì như trong thể cao. Nhưng trong thì 2 của phẫu thuật có thể áp dụng phương pháp Péna hạ bóng trực tràng bằng đường cùng và tầng sinh môn không cần phải mổ bụng.
Thời gian gần đây với sự tiến bộ trong phẫu thuật cũng như trong gây mê hồi sức, các phẫu thuật viên nhi đã có thể giảm lứa tuổi mổ triệt để sớm hơn (6 tháng) và áp dụng phẫu thuật 2 thì. Ngoài ra ở một số bệnh viện phẫu thuật nội soi cũng đã được áp dụng kết hợp để điều trị các thể dị dạng ở cao.
Đặc biệt: teo trực tràng: giải phóng 2 đầu trực tràng nối tận – tận
THEO DÕI – ĐÁNH GIÁ SAU MỔ
Sau phẫu thuật tạo hình hậu môn trực tràng, ngoài các biến chứng thông thường như các phẫu thuật khác ở đường tiêu hoá như nhiễm trùng, chảy máu, dính ruột... thì có 2 biến chứng rất đặc thù của bệnh cần phải được đánh giá lâu dài là:
Hẹp hậu môn
Do hậu môn sau khi tạo hình không được nong thường xuyên nên hình thành các lớp xơ làm  hẹp hậu môn thậm chí có nhiều trường hợp bít lại hoàn toàn.
Để đề phòng biến chứng này cần tạo hình hậu môn có thừa một ít niêm mạc lộn ra ngoài để tránh dính 2 mép hậu môn về sau và đồng thời phải có kế hoạch nong hậu môn định kỳ và đều đặn sau mổ (thì 2 và thì 3). Tốt  nhất là huấn luyện cho bà mẹ tự nong cho con của mình bằng tay (có đeo găng).
Són phân
Do tổn thương hệ cơ vòng của hậu môn.
Nếu ở mức độ nhẹ có thể điều trị nội khoa (chế độ ăn, sinh hoạt, tập luyện phản xạ có điều kiện).
Nếu mức độ nặng ảnh hưởng sinh hoạt bệnh nhân cần đặt vấn đề phẫu thuật tạo hình lại hệ cơ vòng hậu môn.



POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG

POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG

ĐẠI CƯƠNG
Polyp đại tràng thường là u lành tính phát triển từ niêm mạc của đại tràng. Hình thành do sự phì đại của biểu mô tuyến quanh một trục liên kết mạch, thường ở trực tràng và đại tràng xích ma. Chúng trông như những u nhỏ hình hạt đậu, quả dâu, quả anh đào… có cuống dài, mảnh hoặc ngắn, rộng bám vào thành đại tràng.

Có thể có 1 polyp đơn độc hoặc nhiều polyp riêng biệt nằm rải rác ở các phần khác nhau của đại tràng.

Polyp có thể xuất hiện tại nhiều vị trí trong đường tiêu hóa nhưng phổ biến nhất ở đại tràng.

Polyp đại tràng có nhiều kích thước khác nhau từ ít hơn 0,25cm đến vài cm đường kính.

Một số khối polyp đại tràng có thể phát triển thành ung thư. Nguy cơ thoái hóa ác tính của polyp tùy thuộc vào kích thước. Nếu có đường kính không quá 5mm thì ít nguy cơ phát triển thành ác tính, polyp đường kính trên 20mm có khả năng ung thư hóa tới 50%. Thời gian chuyển hóa ác tính của u tuyến với ổ loạn sản là 10 năm.


Ảnh1 Polyp đại tràng
YẾU TỐ NGUY CƠ

Khi tuổi cao nguy cơ mắc polyp tăng lên. Trong khi bệnh polyp khá hiếm gặp ở độ tuổi 20, có nghiên cứu ước tính rằng trung bình ở tuổi 60, ngoại trừ có yếu tố nguy cơ đặc biệt đối với khối u, thì có 25 % nguy cơ bị polyp.

Hiện nay vẫn chưa rõ nguyên nhân cụ thể gì gây ra polyp đại tràng.

Một số nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn nhiều chất béo, ít chất xơ có thể là một khuynh hướng hình thành polyp.

Di truyền là yếu tố thuận lợi phát triển các khối polyp đại tràng.

Yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với phát triển các khối u là khi chúng ta trên 50 tuổi. Tiền sử gia đình có polyp và ung thư đại tràng cũng làm gia tăng nguy cơ mắc polyp đại tràng. Thêm nữa, bệnh nhân có tiền sử cá nhân của các bướu thịt hoặc ung thư ruột kết cũng có nguy cơ phát triển các khối u mới. Ngoài ra, có một số polyp hoặc ung thư ở hội chứng hiếm gặp trong gia đình cũng làm tăng nguy cơ khối u xuất hiện ở lứa tuổi trẻ.

PHÂN LOẠI

Có hai loại polyp đại tràng phổ biến: polyp tăng sản và u tuyến.

Các polyp tăng sản không có nguy cơ bị ung thư. Các polyp u tuyến được cho là tiền thân cho hầu hết bệnh ung thư đại tràng, mặc dù cơ bản các u tuyến không phải bao giờ cũng trở thành ung thư.

Kiểm tra mô học dưới kính hiển vi là cách tốt nhất để phân biệt giữa polyp tăng sản và polyp tuyến, mặc dù không phải để xem các polyp u tuyến sẽ trở thành ung thư hay không. Các khối polyp lớn có nhiều khả năng trở thành ung thư và một số kích thước rất lớn (hơn 2cm) đã có thể có những vùng nhỏ bị ung thư hóa. Vì không thể chắc chắn tất cả các phần của polyp đều là lành tính, do đó các bác sĩ thường khuyên nên loại bỏ tất cả các khối polyp được tìm thấy trong quá trình nội soi đại tràng.

TRIỆU CHỨNG

Hầu hết các khối polyp đại tràng không gây triệu chứng. Trên lâm sàng, polyp đại tràng thường tiến triển thầm lặng.

Những người có polyp to có thể thấy máu trong phân, nhưng ngay cả khi đó cũng thường không có triệu chứng rõ ràng.

Có thể gây cảm giác mót đi cầu. Đôi khi polyp lòi ra ngoài hậu môn nếu ở vị trí trấp

Cách tốt nhất để phát hiện khối polyp là đi nội soi đại tràng kiểm tra ngay cả khi không có triệu chứng. Các ống nội soi trực tràng – đại tràng xích ma cứng và mềm giúp thấy được những polyp ở thấp. Đối với polyp cao có thể dùng kỹ thuật chụp khung đại tràng đối quang.

Một số kỹ thuật kiểm tra khác có sẵn: xét ​​nghiệm tìm máu trong phân, đêt tìm máu vi thể dùng thử nghiệm Hemocult, thực hiện soi đại tràng sigma để khám đoạn phần ba dưới của đại tràng, sử dụng xét nghiệm chụp X-quang có thuốc cản quang hoặc chụp CT scanner đại tràng. Nếu một trong các xét nghiệm phát hiện hoặc nghi ngờ khối u, nên nội soi đại tràng để loại bỏ chúng.
nội soi đại tràng là cách chính xác nhất để phát hiện khối polyp, nhiều chuyên gia hiện nay đề nghị nội soi đại tràng là một phương pháp sàng lọc để phát hiện bất kỳ khối polyp nào khi nghi ngờ và có thể tiến hành cắt bỏ ngay polyp trong quá trình nội soi.

ĐIỀU TRỊ

Hầu hết các khối polyp được tìm thấy trong khi nội soi đại tràng đều có thể được cắt bỏ hoàn toàn. Kĩ thuật cắt khác nhau với kích cỡ, loại polyp, đều dùng bằng phương pháp đốt điện:

- Nếu polyp có cuống dài, bác sĩ sẽ dùng thòng lọng ôm vào cuống polyp rồi cắt
     - Nếu polyp không cuống sẽ dùng kẹp, kẹp nhấc polyp lên rồi cắt điện
      - Nếu polyp không cuống, tiến hành tiêm nước muối vào chân polyp để tạo cuống rồi cắt

Niêm mạc đại tràng bị đốt cháy nông, cắt bỏ polyp không gây cảm giác khó chịu nào, bệnh nhân hầu như không có cảm giá gì trong khi bác sĩ cắt polyp qua nội soi.

Khối u cắt ra sau đó được kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định loại mô và khả năng bị ung thư. Nếu polyp có kích thước lớn hoặc nhìn có vẻ bất thường, sau khi cắt sẽ được bác sĩ khuyên theo dõi kiểm tra lại bằng nội soi định kỳ.

Nếu polyp đã thoái hóa ác tính vào quá lớp cơ niêm thì phải coi như ung thư đại tràng, cần xử lý phẫu thuật như đối với ung thư.

Tỷ lệ khỏi bệnh có thể đạt đến 90% nếu được phát hiện và mổ sớm.

Cần ăn nhiều rau quả giàu chất xơ, ít chất mở, tác dụng bảo vệ, ngăng ngừa ung thư đại tràng.



Ảnh2:  cắt polyp đại trực tràng bằng thòng lọng
BIẾN CHỨNG
Cắt polyp trong khi nội soi là một thủ thuật ngoại trú, không cần nằm viện, bệnh nhân có thể về ngay sau khi cắt xong. Biến chứng có thể xảy ra bao gồm chảy máu từ chân vết cắt polyp, thủng đại tràng (hiếm gặp). Chảy máu từ chỗ cắt polyp có thể xảy ra ngay lập tức hoặc vài ngày sau cắt. Khi chảy máu có thể tiến hành cầm máu bằng cách xử lý trong quá trình nội soi đại tràng. Nếu thủng có thể cần phải phẫu thuật.

THEO DÕI
Bác sĩ sẽ quyết định khi nào nội soi đại tràng là cần thiết. Thời gian phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm số lượng và kích thước của khối polyp bị loại bỏ, loại mô của khối u của bạn.
Nếu khối polyp còn nhỏ và toàn bộ đại tràng được nhìn thấy trong khi nội soi, các bác sĩ thường khuyên bạn nên đi nội soi đại tràng 1-3 năm. Nếu nội soi đại tràng không phát hiện được polyp nào bạn có thể không cần đi nội soi trong 3 năm.
Clip: Cắt Polyp đại tràng